Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Sơ lược về các tôn giáo ở Việt Nam

Sơ lược về các tôn giáo ở Việt Nam

Ý niệm về tôn giáo là ý niệm phổ quát nơi mọi dân tộc, dù man di mọi rợ hay văn minh tântiến: Người Do thái (Jews) được Thiên Chúa tuyển chọn tỏ mình ra cho biết Danh Ngài là Đấng Tự hữu (Tự mình mà có, không ai sinh ra Ngài).


Các dân tộc khác, tùy văn hoá mỗi nơi, tôn thờ nhiều thần minh (gods) khác nhau với nhiều nghi lễ khác nhau: Người Rôma thờ thần Jupiter, người Phenicia thờ thần Baal, người Ba tư- Persian- Iran) thờ thần Ánh sáng (Ormuz), người Ấn độ thờ Đấng Chí linh (Bhram), người Tàu thờ Đấng Thượng Đế .


Người Việt nam thờ đấng nào, theo những đạo nào?

- Người Việt nam trong gia đình theo lòng hiếu thảo, thờ Ông Bà; trong xã hội thờ những vị thần làng; trong thiên nhiên thờ những vị thần phù hộ, khi có các đạo từ ngoài đưa vào, người ta thờ thần thánh riêng của mỗi đạo, nhưng trên hết, người Việt nam thường kêu cầu Ông Trời.

- Tại Việt nam có tới 10 đạo khác nhau: 1. Đạo Ông bà (Ancestor Worship), 2. Đạo thờ Thần (Idolatry), 3. Đạo Lão (Taoism), 4. Đạo Khổng (đạo Nho) (Confucianism), 5. Đạo Phật (Buddhism), 6. Đạo Công Giáo (Catholicism), 7. Đạo Tin Lành (Protestantism), 8. Đạo Cao Đài (Caodaism), 9. Đạo Phật giáo Hoà Hảo (Hoa Hao Buddhism), 10. Đạo Hồi (Islamism).


Xin nói sơ về mỗi đạo:

1- Đạo Ông bà:

Không hẳn là một tôn giáo. Con cháu tỏ lòng hiếu thảo biết ơn đối với ông bà tổ tiên khi còn sống cũng như lúc đã qua đời. (Xác ông bà được chôn táng ngay trong vườn cạnh nhà. Vong linh (spirit) ông bà coi như đang sống nơi giường thờ. Từ việc tết nhất, cưới hỏi, từng bữa cơm, lúc vui buồn, khi con cháu ốm đau..., ông bà đều được nhớ đến, được khấn vái. Tùy gia đình giầu nghèo, tùy lúc bình thường hay cấp bách. Mâm cúng thường là một mâm cơm, hoặc ít là trầu cau hoa quả. Giữa đêm khuya, cúng một chén nước lã với nén hương. Thời gian cúng là chờ cho tàn một tuần hương, tức là chờ bó nhang cháy lụn, lúc đó kể như ông bà đã dùng của lễ dâng. Sau đó dọn xuống để con cháu cùng nhau hưởng. Con cháu phải lo ăn ở sao cho khỏi mang chữ bất hiếu. Lời cha mẹ dặn văng vẳng bên tai. Dòng máu tổ tiên sôi trong huyết mạch, người con cảm thấy tủi hổ về cách ăn ở của mình nếu đã làm điều bất xứng).

Tác giả Toan Ánh thêm: "Việc thờ thần linh cũng nói lên việc nhớ ơn người trước, nhắc nhớ những gương sáng tiền nhân để lại, và bảo nhau làm điều lành lánh điều dữ". (Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt nam, quyển thượng trang 192).

Tại Việt nam, số người thờ cúng ông bà tổ tiên chiếm số đông nhất trong toàn thể dân số.

* Việc thờ cúng Ông bà nhắc nhớ cho con cháu quí trọng hồn thiêng sống mãi, và gắng sống sao cho mình sau này cũng được mát mẻ dưới "suối vàng" với ông bà Tổ tiên. Đó là những ước ao rất tốt từ tâm thức con người mong một cõi linh thiêng giải thoát khổ cực đời này.


2- Đạo Thờ Thần:

Khó có thể kể hết tên các vị thần của người Việt. Trên trời có thần mưa, thần gió, thần sấm, thần sét, thần mặt trời, mặt trăng; dưới đất có thần tử, thần sinh, thần cây đa cây đề; trong nhà có Thổ công (Thần đất được thờ trong miếu nhỏ), thần Táo (thờ trong bếp), thần Tài (thờ trong góc nhà). Trong làng có Thành hoàng, dưới sông có Hà bá; ngoài biển có thần Thuỷ. Mỗi nghề nghiệp, mỗi địa phương đều có thần riêng.


Thờ Thần chỉ là những lối tỏ bày niềm tin nơi các Sức mạnh linh thiêng mà người ta tin rằng có quyền che chở và chúc phúc, giúp thoát khổ, thoát nạn, có ảnh hưởng đến con người từ lúc còn là bào thai trong lòng mẹ tới khi nhắm mắt đi vào lòng đất. Qua việc thờ Thần này, vì không có giáo điều hướng dẫn, nên sinh những mê tín, lừa bịp.

* Quan niệm về đời sau dựa trên niềm tin của dân gian, tưởng tượng, truyền khẩu nhiều hơn.


3- Đạo Lão:

Vị Sáng lập Đạo Lão là cụ Lão Tử bên Tàu (Tục truyền: mẹ mang thai con 80 năm, sinh con ra đầu đã bạc, nên gọi là lão, (theo Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục, Miền Nam xb, trang220).

Đạo Lão có từ 7 thế kỷ trước Chúa Kitô ra đời.

Vẫn theo tác giả Phan Kế Bính: "Lão tử soạn ra bộ Đạo Đức kinh gồm năm nghìn câu nói, chủ ý dạy con người giữ "Cách tự nhiên thanh tĩnh, không cần phải làm gì". Muôn việc cứ phó mặc tự nhiên, không cần phải lo lắng nghĩ ngợi, mới hưởng được khoái lạc tiêu dao"(sách trên, trang trên).

Về phương diện triết lý, tương tự thuyết Tiến hoá. Lão Tử cho rằng Đạo là nguyên lý huyền diệu, vô hình, vô sắc, đã sinh ra âm dương trời đất và muôn vật. Muôn vật sinh ra khắp cả thế gian rồi lại quay trở về đạo, để lại hóa ra muôn vật muôn loài, theo cuộc tuần hoàn biến cải thiên nhiên.

Đạo Lão được truyền vào Việt Nam cùng với việc cai trị của người Trung Hoa. Đã có thời toàn thịnh, ảnh hưởng giới trí thức chán công danh, ưa nhàn du, tiêu dao phóng khoáng; ảnh hưởng giới bình dân ưa chuyện đồng bóng thần tiên huyền ảo.

* Đạo Lão không đề cao Thượng đế và không nói tới sự Sống đời sau.


4- Đạo Khổng: (đạo Nho)

Theo một truyền thuyết, Đức Khổng Tử đã lập đạo này vào cuối thế kỷ 6 trước Chúa Kitô.

Tôn chỉ: Đạo Khổng xây dựng con người và xã hội qua việc: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Để đạt đích trên, con người cần giữ luân lý tam cương (vua-tôi, cha-con, vợ-chồng); nam giới cần có ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín); nữ giới cần có tam tòng (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) và tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh).

Học thuyết căn bản trong đạo Khổng: là tuân theo mệnh Trời (Thiên mệnh). Thiên mệnh hướng dẫn hoạt động của mọi người, không ai thoát khỏi.

Khổng giáo truyền vào Việt nam cùng với việc cai trị của người Trung Hoa và đã gây ảnh hưởng rất lớn trong đời sống và văn chương người Việt từ Vua Chúa tới dân thường, đã có thời trở thành quốc giáo.

* Đạo Khổng tuy đề cao Trời, nhưng không nói tới Sự Sống đời sau. Đức Khổng chỉ nói:"Khi chết, phách con người trở về với đất, khí con người bay lên không trung".


5- Đạo Phật:

Phật tổ tên là Gautama Shidata, con vua nước Ấn độ, sinh năm 563 trước Chúa Kitô. Năm 29 tuổi, Người đi thăm dân chúng ở kinh thành, gặp nhiều cảnh khổ của dân, sau đó, Người quyết định rời cung điện đi tìm đường giải thoát. Sau thời gian tu luyện, năm 35 tuổi, Người đã tự giác ngộ, tìm được đường giải thoát khi đang suy niệm cạnh cây bồ đề trong một đêm trăng tròn tháng Năm dương lịch. Do đó, Người được gọi là Buddha (Bụt, Phật).


Các nhà sư Khmer đi khất thực. Ảnh: tannobi

Đạo Phật chủ trương: "giải thoát con người". Theo Đức Phật: Đời là bể khổ, sinh khổ, bệnh khổ, già khổ, chết khổ. Mà nguồn gốc của khổ là lòng tham muốn. Vậy muốn khỏi khổ, phải diệt lòng tham muốn. Khi đã diệt được lòng tham muốn rồi, con người sẽ được giải thoát (tức là tình trạng niết bàn).

Về niềm tin: Mỗi người có nhiều Kiếp (đời). Từ kiếp này Đầu thai (reincarnate) qua kiếp khác (gọi là Luân hồi = xoay vần như bánh xe ). Tin có Nhân-Quả ( Cái Nghiệp (Karma: phận việc) ta có ở kiếp này sinh từ cái Quả ta đã làm ở kiếp trước, và Nghiệp ta làm ở kiếp này là cái Nhân sinh ra cái Quả của ta ở kiếp sau. Nghiệp báo cứ luân hồi mãi cho tới khi ta giải thoát xong mà được về Niết bàn (nơi hư không). (Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, Việt Nam Tự Điển trang 199 Phần III).

Đạo Phật không dạy tin có Thượng đế. (Trên con đường giải thoát, người ta tùy sức mình, không cần ai hay thần thánh nào giúp. Như vậy, không cần cầu nguyện với thần thánh.

Về luân lý: Dạy giữ ngũ giới: Cấm sát sinh, cấm trộm cướp, cấm gian dâm, cấm nói dối, cấm rượu thịt.

Đạo Phật cho phép trong kiếp người, con người có thể tự hủy mạng mình, tức tự thiêu.

Đạo Phật vào Việt Nam khi người Trung Hoa sang đô hộ từ thế kỷ 2. Đã có những thời kỳ rất thịnh đến trở thành quốc giáo và ảnh hưởng rất nhiều trong dân gian cũng như trong văn học (theo Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo sử, quyển II, trang 126).

* Đạo Phật không chỉ rõ cho con người được hạnh phúc đời đời như tâm thức con người mọi thời hằng mong muốn. Sau khi vất vả diệt dục và làm thiện, đạo Phật chỉ nói tời Niết bàn là một tình trạng giải thoát mà thôi.

Phải chăng Phật tổ thấy trước Đức Kitô sẽ ra đời khi Người nói với Ananda: "Ta không phải là Đức Phật đầu tiên giáng thế, mà cũng không phải là Đức Phật cuối cùng. Lúc cần đến, sẽ có một Đức Phật khác xuất hiện trên thế giới, một vị chí tôn, chí tuệ, hành vi đạo đức, đem lại điềm lành, biết rõ vũ trụ, một vị lãnh đạo vô song của loài người, một vị Chúa tể của thiên thần và thế nhân, Đức Phật ấy sẽ dạy những chân lý bất diệt" (Trịnh Văn Thanh, Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển, Xuân Thu xuất bản, trang 334).


6- Đạo Tin lành:

Gọi đúng ra là đạo (Protestantism). Đạo Tin lành phát xuất từ Đạo Công giáo.

Theo lịch sử, Ông Lutherô, một linh mục Công giáo người nước Đức (Germany), năm 1517 đã phản đối giáo huấn của Giáo hội Công giáo về các vấn đề Ân xá, Bí tích, lời khấn hứa..., phủ nhận quyền lãnh đạo tối cao của Đức Giáo hoàng Rôma.

Mười hai năm sau khi tuyên thệ phản đối, ông và đồng bạn đã tuyên bố tách rời Giáo hội Công giáo Rôma, lập giáo phái mới, lấy Kinh Thánh (Bible) làm sách kinh hướng dẫn đời sống đạo. Do đó gọi là đạo Tin lành.

Ông chủ trương: người ta nên công chính (justification) bằng đức tin của mình. Công nghiệp của cá nhân không ích gì cho phần rỗi linh hồn. (Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Sài gòn 1972, II trang 9).

Ông chủ trương thuyết Tiền định (Predestination), theo đó, sự sống đời đời của mỗi người đã được Thiên Chúa định trước, cho dù con người có cố gắng thoát ra cũng không thoát nổi. Thật ra trong Kinh Thánh, Chúa nói rõ trong sách Khải huyền chương 22, câu 12 như sau:"Họ sẽ được trả công tùy theo việc họ làm (22, 12).

Vì không có thủ lãnh tối cao, đạo Tin lành sau đã lan ra thành nhiều phái khác nhau.

Đạo Tin lành vào Việt Nam thời người Pháp qua đặt nền đô hộ tại Nam Kỳ. Năm 1911 người Tin lành Mỹ tới mở trường dạy Thánh Kinh và huấn luyện nhà truyền giáo. (Lm. Phan Phát Huồn, Việt nam Giáo sử, II, Sài gòn 1962, trang 195).


7- Đạo Cao Đài:

Người thành lập đạo Cao đài là ông Ngô văn Chiêu quê tại Bình Tây Chợ lớn, cùng với nhóm trí thức hay cầu cơ ở Sàigòn. Đạo Cao đài xuất hiện vào năm 1926. Trụ sở trung ương, tức Toà thánh đặt tại Tỉnh Tây Ninh, Nam Việt.

Đạo Cao đài là tổng hợp các đạo Khổng, Lão, Phật và Công giáo.

Mục đích đạo Cao đài (đài của Đấng Tối cao) là nhắc cho mọi người bổn phận với mình, với gia đình, với xã hội và với thế giới. Đạo khuyên con người từ bỏ danh vọng, xa hoa trần thế để tìm an bình cho tâm hồn.

Đạo lấy Con Mắt (Thiên nhãn) là biểu hiệu sự sáng suốt của Đấng Chí Tôn. Cầu Cơ là lối duy nhất để hỏi ý Người và các Tiên thánh trong việc hành đạo.

Tín đồ phải giữ chay từ 2 tới 10 ngày một tháng, tùy là thượng thừa hay hạ thừa. Cầu nguyện hằng ngày lúc sáng, trưa, chiều và 12 giờ khuya.

* Đạo Cao Đài ảnh hưởng Phật giáo về kiếp sau, nhận có linh hồn bất diệt và luân hồi, nhưng cũng không dạy rõ ràng về sự Sống đời đời, là nơi hạnh phúc trường kỳ.


8- Đạo Phật giáo Hoà hảo:

Lập đạo vào năm 1939, do Đức Huỳnh phú Sổ người làng Hoà Hảo tỉnh Long Xuyên, Nam Việt.

Phật giáo Hoà hảo chọn màu đà (màu nâu nhạt) là màu tổng hợp các mầu, tượng trưng sự hợp nhất các chủng tộc.

Đạo Hòa hảo khuyên người đời thực hiện Tứ đại ân: Đền ơn cha mẹ, đền ơn đất nước, đền ơn Phật Pháp Tăng, đền ơn đồng bào nhân loại.

Đạo dạy tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm; giữ bát chánh (kiến, tư duy, nghiệp, tín, tấn, mạng, niệm, định) (theo Trịnh văn Thanh, Thành ngữ điển tích Danh nhân Từ điển).

* Vì ảnh hưởng của Phật giáo, nên chủ trương về sự Sống đời sau cũng giống như Phật giáo, tức là cõi Niết bàn (nơi hư không).


9- Đạo Hồi (Hồi giáo - Islamism):

Do ông Mahômet thành lập khoảng năm 622. Ông là dòng dòi Ismael, con tổ phụ Abraham với người tớ nữ. Năm 40 tuổi, ông tự xưng là tông đồ và ngôn sứ (prophet) của Thiên Chúa, được ơn mạc khải (revelation) và được sai đến để cải cách tôn giáo, xã hội. Nhờ đọc Kinh Thánh của Công giáo, ông đã viết sách Quran coi như Kinh thánh của đạo ông và truyền lại cho dân Ả rập.



Học kinh Quran. Ảnh: tannobi


Bổn phận của người Hồi, có 5 cột tru:

1. Đọc kinh Tin kính (Không có Thiên Chúa nào khác, trừ ra Thiên Chúa và Mahomet là tiên tri của Người), nhiều người đọc hằng ngày.

2. Cầu nguyện mỗi ngày 5 lần (sáng, trưa, sau trưa, sau mặt trời lặn, trước đi ngủ), quay mặt về Thủ đô Mecca mà đọc.

3. Đóng thuế 2,5% cho quĩ bác ái.

4. Ăn chay trong tháng Mahomet nhận kinh Quran từ Allah.

5. Nếu có thể, hành hương Mecca một lần trong đời.

- Hồi giáo tin vào một Thiên Chúa quyền phép, và thương xót, công bằng, Mahomet là đại tiên tri cuối cùng của Thượng đế.. Tin có Satan, có thiên đàng, hỏa ngục, nhưng thiên đàng có thỏa mãn xác và hồn.. Kiêng rượu, xì ke, cờ bạc, cấm thịt heo, cấm kỳ thị màu da. Về hôn phối, đàn ông được lấy 4 vợ chính và một số nàng hầu vô định. Trong gia đình, người đàn ông có toàn quyền sinh sát.

Về sự sống đời sau, Hồi giáo chủ trương: Ai không có đức tin sẽ phải sa hỏa ngục, ai có đức tin sẽ được lên thiên đàng. Thiên đàng của Hồi giáo nặng về thú vui thể xác như được hưởng rượu ngon, thịt béo, đàn bà đẹp, có quyền hành...nhưng không có chứng minh từ người chết hiện về cho biết thật hư thế nào?

Hồi giáo muốn chinh phục thế giới, độc quyền phát triển, không nhân nhượng tôn giáo khác.

Hồi giáo Việt Nam thuộc khối Á châu phần lớn do người Việt gốc Chàm tin theo. Ngày nay, tại vùng Biên hòa, cũng có chừng vài ngàn người theo đạo này.

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Phần mềm DCAT - Từ điển Công Giáo (Anh - Việt)



Tên chương trình: Phần mềm từ điển Công Giáo (Anh - Việt)
IDE: Visual Studio 2013 - WPF
Yêu cầu để chạy chương trình .NET Framework v4.0

TẢI VỀ: http://www.mediafire.com/download/dia2n224gzzywb0/DCAT_Setup.rar

Các tính năng:
+ Tra cứu hơn 10.000 thuật ngữ trong đạo Công Giáo
+ Cho phép người dùng thêm mới các thuật ngữ.
+ Xóa, sửa các thuật ngữ đã thêm.
- Không có phiên âm.
- Không có phát âm.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Hương Ngược Gió...



Chúa thương cho con điều ước
Con xin làm cỏ nội giữa đồng hoang.
Đã lớn lên sinh hoạt giữa nội ngàn
Thân mềm mại uốn mình ru với gió.

Con cảm nhận đời con quá bé nhỏ
Có nghĩa gì trong vũ trụ bao la
Hôm nay được gì? Mất chi mất?
Làm vướng bận cho lòng người nhân thế.

Làm thân cỏ yếu mềm đến là thế
Bụi hồng trần phú quý bã công danh.
Sống đơn sơ thanh sạch giữa long trần
Và cảm nhận cuộc đời là ngắn ngủi.

Chúa thương cho con điều ước
Nếu mai này trình diện trước tiền nhân
Đời của con là hoa cỏ nội ngàn
Nên chỉ là vô duyên người lữ khách.

LINH MỤC VÀ CỦA CẢI TRẦN GIAN



Gần đây, trên mạng và báo chí có những bài như “Nghề đi tu” hay “Đời sống xa hoa của một giám mục” v.v… Những bài này nhằm phản ánh dư luận của dân chúng về phong thái của những người đi tu, để nhắc nhở cho giới tu hành rằng phải xem xét lại lối sống của mình sao cho đích đáng. Vì thế, thiết tưởng đây là lúc nên đặt lại vấn đề “Linh mục và của cải trần gian” theo các chỉ dẫn của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm họp tại Roma năm 1971. Thời gian tài liệu đó ra đời tính đến nay đã hơn 40 năm, nhưng giá trị và tính thời sự của nó vẫn không thay đổi, vì đó là đề tài cần thiết và lâu lâu cần phải được nhắc lại.

Thật vậy, trong các đòi hỏi phải từ bỏ của Chúa Giê-su đưa ra cho các Tông Đồ, có một đòi hỏi về vật chất, đặc biệt là tiền của (Mc 10,21; Lc, 18,22}. Đó cũng là một đòi hỏi được gửi đến mọi Ki-tô hữu theo tinh thần nghèo khó, nghĩa là gỡ lòng mình cho khỏi dính bén của cải để có thể thanh thản phụng thờ Chúa và quảng đại phục vụ tha nhân. Nghèo khó là một hình thức cam kết dựa vào lòng tin vào Chúa Giê-su và lòng mến dành cho Người. Hình thức này đòi phải có sự thực tập, một sự từ bỏ của cải tương ứng với đời sống và bậc đời của mỗi người theo ơn gọi ki-tô hữu, với tư cách riêng của mỗi cá nhân hay chung của một cộng đoàn thánh hiến. Tinh thần nghèo khó có giá trị đối với mọi người. Mỗi người phải thực hiện theo cách nào đó cho phù hợp với Tin Mừng.

Đức nghèo khó mà Chúa Giê-su yêu cầu các Tông Đồ thực hành là một mạch suối tu đức không vơi cạn. Đức này không dành cho những nhóm đặc biệt mà thôi, vì tinh thần nghèo khó cần cho mọi người ở mọi nơi và trong mọi thời. Thiếu sót trong vấn đề này là đi ngược lại với giáo huấn của Tin Mừng. Tuy nhiên, trung thành với tinh thần này không có nghĩa là phải từ bỏ mọi sở hữu hay bãi bỏ quyển sở hữu cải vật chất đối với các Ki-tô hữu hay các linh mục. Nhiều lần Huấn Quyền đã kết án những ai chủ trương như thế và tìm cách hướng dẫn tư tưởng và hành động theo đường lối thích hợp. Trong nhiều trường hợp phải đứng trước những tình trạng khó khăn, Hội Thánh đã tìm cách vượt qua bằng nhiều hình thức, nhất là bằng cách kêu gọi lòng hảo tâm của các tín hữu để có phương tiện lo việc thờ phượng, hoạt động bác ái, nuôi dưỡng linh mục, làm việc truyền giáo v.v…

Đúc nghèo khó theo Tin Mừng không hề khinh chê của cải trần gian vì những thứ này được ban cho con người là để sống và hợp tác với chương trình sáng tạo của hiên Chúa. Theo Công Đồng Va-ti-ca-nô II, linh mục cũng như mọi Ki-tô hữu, vì có nhiệm vụ ca tụng và tạ ơn, nên phải nhìn nhận và tán dương lòng quảng đại của Cha trên Trời được biểu lộ trong các của cải trần gian (PO 17). Nhưng Công Đồng còn nói thêm là các linh mục đang khi sống ở giữa thế gian phải luôn luôn nhớ rằng mình không thuộc về thế gian này (Ga 17,14-16) và phải gỡ mình ra cho khỏi mọi ràng buộc quá đáng, hầu đạt được một tư thế thiêng liêng thích hợp và quân bình với thế gian và những sự đời (Pastores do vobis 30).

Đó là một vấn đề tế nhị, vì Hội Thánh thi hành sứ vụ giữa thế gian và của cải vật chất là hoàn toàn cần thiết cho con người để được phát triển. Chúa Giê-su đã không cấm các Tông Đồ nhận các thứ cần thiết cho đời sống ở trần gian. Người cũng xác nhận quyền của các ông khi sai các ông đi rao giảng : “Người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công.” (Lc 10,7; x. Mt 10,10). Thánh Phao-lô cũng nhắc cho tín hữu Co-rin-tô : “Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng (1 Cr 9,14) ; Người được học lời Chúa, hãy chia sẻ mọi của cải với người dạy dỗ mình.” (Gl 6,6)

Vì thế, các linh mục có của cải vật chất để sử dụng là điều chính đáng, theo lệnh truyền của Chúa và giáo huấn của Hội Thánh (PO 17). Về điểm này, Công Đồng đưa ra những chỉ dẫn cụ thể sau đây :

Trước hết, việc quản trị tài sản chính thức của Hội Thánh phải được bảo dảm theo các luật lệ hiện hành, với sự trợ giúp của các giáo dân thành thạo. Những của cải này phải luôn luôn được sử dụng để lo công việc thờ phượng, bảo đảm cho linh mục một mức sống vừa đủ, yểm trợ các công việc tông đồ, bác ái, đặc biệt giúp người nghèo. Những nguồn lợi do công việc đạo đức hay chức vụ linh mục mang lại phải được dùng, trước hết để bảo đảm đời sống và hoàn thành những bổn phận của đấng bậc mình. Phần còn lại phải dùng để phục vụ Hội Thánh và những công việc bác ái. Phải đặc biệt nhấn mạnh đến điều này là bất cứ một chức vụ nào trong Hội Thánh được trao cho các linh mục và cả các giám mục nữa, không bao giờ được coi đó là một cơ hội để làm giầu cho cá nhân hay gia đình mình. Vì thế, các linh mục chẳng những không được dính bén của cải mà lại còn phải tránh mọi dáng dấp ham muốn và cẩn thận loại bỏ mọi hình thức buôn bán. Tựu trung, nên nhớ rằng trong việc dùng của cải, mọi sự đều phải dựa vào và diễn ra theo ánh sáng của Tin Mừng.

Khi linh mục làm hay quản trị những công việc đời không thuộc phạm vi thiêng thánh hay tôn giáo cũng phải tuân theo nguyên tắc nói trên. Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971 tuyên bố rằng bình thường linh mục phải dành toàn thời giờ cho công việc theo chức vụ. Vậy tuyệt đối không được tham gia vào các việc đời và coi đó như mục đích chính. Những công việc này không thể diễn tả cách thỏa đáng trách nhiệm riêng biệt của linh mục. Thượng Hội Đồng cũng đã bày tỏ thái độ và lập trường trước khuynh hướng muốn tục hóa hoạt động của linh mục, muốn linh mục làm một nghề như những người khác ở đời.

Quả thật, có những trường hợp và ở những nơi người ta không biết Chúa Ki-tô, nên cách hữu hiệu nhất để đưa Hội Thánh đến với họ là có những linh mục cùng làm việc, sinh sống như họ và ở giữa họ như Các Linh Mục Thợ chẳng hạn. Lòng quảng đại của những linh mục này thật đánh hoan nghênh. Tuy nhiên, vẫn phải coi chừng vì làm như vậy, linh mục có thể đưa xuống hàng thứ yếu hay loại bỏ thừa tác vụ của mình. Vì mối nguy cơ này như kinh nghiệm chứng tỏ, Công Đồng đòi linh mục nào muốn làm việc lao động như những công nhân, phải được giám mục của mình ưng thuận và cho phép (PO 8). Thượng Hội Đồng 1971 đã đặt ra qui tắc là linh mục làm việc đời phải tùy thuộc giám mục và linh mục đoàn và nếu cần phải xin ý kiến của Hội Đồng Giám Mục (Ench. Vat. IV, 1190).

Đôi khi cũng có những trường hợp như đã xẩy ra trong quá khứ là có những linh mục có năng khiếu và được huấn luyện kỹ, hoạt động trong lãnh vực lao động hay văn hóa nghệ thuật không ăn nhằm gì với công việc đạo. Đây là một trường hợp hết sức đặc biệt và phải theo tiêu chuẩn Thượng Hội Đồng 1971 đã đề ra như mới nói ở trên, nếu muốn trung thành với Tin Mừng và Hội Thánh.

Chúa Giê-su đã sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo khó. Thánh Phao-lô nhắc bảo chúng ta : “Người vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em.”(2 Cr 8,9). Chính Chúa cũng nói với chàng thanh niên muốn theo mình : “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Lc 9,57) Những lời này cho thấy một cảnh trơ trụi hoàn toàn, không có chút gì là tiện nghi vật chất. Nhưng không nên vì thế mà vội kết luận Chúa sống trong cảnh bần cùng. Có những đoạn trong Tin Mừng nói Chúa được mời và nhận lời tới nhà những người giầu có (Mt 9,10-11 ; Mc 2,15-16 ; Lc 5,29. 7,36. 19,5-6) cũng như được nhóm phụ nữ trợ giúp về các nhu cầu vật chất. (Lc 8,2-3 ; Mt 27, 55 ; Mc 15,40-41)

Một tinh thần nghèo khó như thế phải được ghi dấu ấn lên cách ăn ở, thái độ, cử chỉ, đời sống và bộ mặt của linh mục là mục tử và người của Chúa. Điều ấy có thể diễn ra bằng một thái độ vô vị lợi, một sự dứt bỏ đối với tiền bạc, một sự từ chối mọi thứ ham muốn trong việc chiếm hữu của cải vật chất, một lối sống đơn sơ, một nơi ở bình thường ai cũng tới được, không có gì xa hoa, đài các.

Kết luận

Chúa Giê-su đã đến rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo hèn bé nhỏ. Linh mục và giám mục phải tránh hết sức những gì có thể đưa mình ra xa người nghèo (PO 17). Ngược lại, nếu tập được cho mình tinh thần nghèo khó theo Tin Mừng, các vị sẽ đi đến với họ và tim cách chia sẻ giúp đỡ họ về vật chất cũng như tinh thần. Đó là bằng chứng về Chúa Giê-su nghèo khó của những linh mục nghèo và bạn của những người nghèo. Đó là ngọn lửa tình yêu bập bùng cháy lên trong đời sống của hàng giáo sĩ và Hội Thánh. Nó sẽ có sức chiếu giãi và thu phục nhân tâm hơn những gì khác. Nguyên việc linh mục sống đơn sơ bình dị, không ham tiền đã là một bằng chứng quí giá cho việc rao giảng Tin Mừng rồi.

vietcatholic.net

Gửi em, Ma Soeur!




Ta gửi em một tiếng gọi Ma Soeur
Ôi mộng mơ trái tim hoà nhịp đập
Ôi thập giá sao Chúa hoài lặng im
Để trái tim đã xa vời một nữa

Ta gửi em chút giọt tình nắng mưa
Sao cho vừa thân thương đầy ánh mắt
Em bắt ta phải là chiên ngoan đạo
Sau cơn mơ ta quên mất lời thề

Ta gửi em cát bụi dấu chân về
Xa là nhớ sao chẳng hề lên tiếng
Môi miệng nào cắn chặt lời yêu thương
Mãi đơn phương cổng nhà dòng khép lại

Ta gửi em khoảng lặng của ngày mai
Ta tan biến sương mây không hình dạng
Gửi lời yêu tìm mãi khoảng lang thang
Ôi chữ tình người nửa tỉnh kẻ đang say

NGHỊCH LÝ CỦA ĐỜI TU



Nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày cất cao giọng hát ngợi khen Chúa, vui vẻ với những công việc tầm thường như việc cắt cỏ trồng rau, không một chút bon chen với cuộc đời, không phải lắng lo chuyện gia đình, con cái, không ganh đua với danh vọng cao sang. Nhìn những vị tu sĩ cao niên đắc đạo, miêng lúc nào cũng nở những nụ cười tươi, không quần áo sang trọng, không vàng bạc trữ kho, nhưng tâm hồn lúc nào cũng bình yêu thư thái, lối hành xử luôn chậm rãi khoan thai, không hờn ai, không trách cứ, đó quả thực là điều nhiều người ước mong. Rồi những tấm gương hy sinh cả một đời giúp đỡ những người cơ nhỡ, người nghèo, hay những ai bị cuộc đời ruồng rẫy, họ làm việc như thể đó là niềm vui, cho đi mà chẳng mong gì đền đáp, bao lụy phiền của nhân tình thế thái chẳng thể bám víu trái tim họ. Đời tu quả là tươi đẹp, là dấu chỉ của Nước Chúa hiện diện ở trần gian.

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Để có thể trở nên một cây cổ thụ sừng sững uy phong, nó đã phải trải qua không ít những gian nan thử thách. Cây nào chịu đựng được thì lớn lên; cây nào không đủ sức thì gục ngã. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người.

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ người có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ phải sống trong cuộc đời nhưng lại bị xem là người ở cõi khác. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp như ai kia, nhưng phải chọn lấy cho mình phần kém nhất. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để một người nào đó được phép yêu mình. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ.

Ai cũng mong muốn mình có một bến đỗ dừng chân, nơi một mái ấm nhỏ, có tiếng cười của con thơ. Nhưng người đi tu thì phải vượt trên mong muốn ấy. Họ có đôi bàn chân không bao giờ ngừng bước. Họ như ngọn gió ngao du khắp núi rừng, băng qua biển khơi. Chẳng nơi đâu là nhà nhưng cũng chẳng nơi đâu là xa lạ. Nơi họ đặt chân đến là quê hương, là cuộc sống của họ… Họ không được đậu neo ở điểm dừng nào, không được để lòng lưu luyến ai hay bất cứ nơi đâu, nhưng phải thanh thoát và tự do với mọi sự. Nơi con tim của người đi tu chất chứa đầy những tâm tư sâu kín. Họ có yêu ai không, không ai biết; họ có ghét ai không, chẳng ai hay; họ có nóng giận, buồn phiền với ai không, không ai tỏ. Dù bên trong có thế nào, điều mà họ thể hiện ra bên ngoài phải là niềm hạnh phúc, phải là niềm vui, phải là dấu chỉ của Nước Trời.

Đó là lý tưởng đẹp, nhưng cũng là điều không phải dễ mà sống được. Sống giữa căng thẳng luôn làm người ta như muốn xé nát con người mình làm đôi. Làm sao giữa dòng đời vạn biến, tâm mình vẫn không động, vẫn yên vui? Làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, mình lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Có những tu sĩ đã vì những xu hướng và thúc bách cá nhân đưa đẩy, lại thiếu đi sự kết hiệp với Chúa nên đã dần dần đánh mất đi lý tưởng tuyệt vời và cao quý của đời tu.

Trong giờ phút này, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho những vị tu sĩ ấy:

Trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đứng trước chọn lựa giữa đời tu và đời sống bình thường. Xin cho họ được ơn soi sáng để có thể bình tâm chọn lựa điều nào hợp với thánh ý Chúa cho cuộc đời mình.

Chúng ta cũng xin Chúa đến kề bên và nâng đỡ những tu sĩ nào đang bị ngả nghiêng theo cơn gió cuộc đời. Xin cho họ biết chạy đến với Chúa khi tâm hồn có chút gợn sóng nhân gian để được ủi an và thêm sức, chứ đừng tìm bù trừ nơi những niềm vui thế tục, nơi những vật chất, tiện nghi. Xin Chúa giúp cho các tu sĩ biết tìm hạnh phúc nơi những hy sinh và thập giá, chứ không phải nơi bạc tiền và danh vọng.

Xin cho các tu sĩ nhận ra rằng biết bao linh hồn đang cần họ đi tới và chia sẻ; có rất nhiều người đang nhìn đến đời sống phục vụ vô vị lợi của họ mà thầm tạ ơn Chúa và nhờ đó có thêm nghị lực đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho họ đừng vì ích kỷ cá nhân và quên đi lời gọi mời cao quý Chúa đã dành cho họ.

Xin cho các tu sĩ, mỗi ngày nên giống Đức Giêsu Kitô vác thập giá – mẫu gương đời sống dâng hiến của họ hơn.

Chúa tạo ra 12 cung hoàng đạo thế nào?


Bạch Dương (21/3 - 20/4)

Bảo Bình (21/1 - 19/2)

Cựu Giải (22/6 - 22/7)

Kim Ngưu (21/4 - 21/5)

Ma Kết (22/12 - 20/1) 



Nhân Mã (23/11 - 21/12)




Song Ngư (20/2 - 20/3)


 Song Tử (22/5 - 21/6)



Sư Tử (23/7 - 22/8)


Thiên Bình (24/9 - 23/10)

Thiên Yết (24/10 - 22/11)


Xử Nữ (23/8 - 23/9)